Nhiều người thường lầm tưởng tiền bạc hay vật chất là vốn liếng quan trọng nhất để gây dựng một sự nghiệp, nhưng thực chất sự đồng thuận giữa người với người mới chính là vốn. Không có sự đồng thuận thì đổ vào bao nhiêu tiền cũng có thể mất trắng. Mọi công trình lớn lao trên đời này, từ một tập đoàn khổng lồ cho đến một sự nghiệp đồ sộ, suy cho cùng đều bắt nguồn từ sự đồng thuận của con người.
Cao nhân chỉ điểm rằng: Có niềm tin vào bản thân, cộng với sự đồng thuận của mọi người, thì mọi ước mơ đều có thể trở thành hiện thực. Sự đồng thuận ấy mới là vốn liếng thật sự, một dạng tiền năng lượng.
Nhưng ở đây Ngọc Anh có một nghi vấn. Cùng một nội dung, cùng một tri thức, có người nói đến khản cả cổ mà chẳng ai tin, lại có người chỉ cần bước tới thôi đã có người đồng thuận.
Mãi sau này Ngọc Anh mới tìm được lời giải. Điều tạo nên khác biệt đó, gọi tên ra là tính chính danh, hay chính là tư cách, vai trò của người đó. Người ta thuận hay không, hóa ra không nằm ở lời nói, mà nằm ở chỗ mình là ai khi nói lời đó.
Chính Danh
"Chính" (正) nghĩa là ngay ngắn, đúng đắn, làm cho chuẩn mực; "Danh" (名) là tên gọi, danh phận, địa vị.
"Chính danh" theo Nho giáo là sự thống nhất tuyệt đối giữa "Danh" (tên gọi, chức vụ) và "Thực" (bổn phận, năng lực, đạo đức thực tế).
Theo Khổng Tử, mỗi người trong xã hội đều có một "danh" (vai trò) nhất định. Để có sự ổn định và thái bình, mỗi cá nhân phải hành động, cư xử và làm trọn vẹn trách nhiệm đúng với cái "danh" mà mình đang mang.
Có hai đoạn đối thoại nổi tiếng trong sách Luận Ngữ.
Khi Tề Cảnh Công hỏi Khổng Tử về cách cai trị quốc gia, Khổng Tử đã đúc kết thuyết Chính danh trong tám chữ kinh điển: "Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử." (Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con). Điều này có nghĩa là:
- Người làm vua thì phải có đạo đức và cách hành xử của một minh quân.
- Kẻ làm tôi phải giữ đạo trung thành, tận tụy.
- Người cha phải từ ái, nêu gương.
- Người con phải giữ đạo hiếu.
Nếu vua không có đức của vua, thì cái "danh" làm vua không còn ý nghĩa.
Còn đây là hệ quả của việc mất chính danh. Khi học trò Tử Lộ hỏi Khổng Tử: "Nếu vua nước Vệ giao cho thầy quyền trị nước, thầy sẽ làm việc gì trước tiên?"
Khổng Tử đáp: "Việc cần làm trước tiên là Chính Danh."
- Danh không chính thì lời nói không thuận.
- Lời nói không thuận thì việc không thành.
- Việc không thành thì lễ nhạc không hưng thịnh.
- Lễ nhạc không hưng thịnh thì hình phạt không trúng.
- Hình phạt không trúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu.
Danh & Thực
Nho giáo nói tới Danh và Thực. Dưới góc nhìn triết lý nhân sinh, hai chữ ấy tương ứng với hai khái niệm: Danh chính là vai trò, còn Thực chính là tư cách.
- Vai trò là ngoại hàm bên ngoài. Nó đại diện cho chức danh, bằng cấp, hoặc sự công nhận chính thức mà xã hội, tổ chức cấp cho một người. Đây là cái phần nhìn thấy được, gọi tên được, ghi trên tấm danh thiếp được.
- Tư cách là nội hàm bên trong. Nó đại diện cho sự thấu suốt, kiến thức, sự hiểu biết và năng lực thực sự của một người đối với một lĩnh vực. Tư cách là cái nền tảng cốt lõi mà một người thực sự sở hữu để gánh được một công việc, một sứ mệnh nào đó.
Nếu ví von cho dễ hình dung: cái "tên" (danh xưng, chức vụ) mà xã hội cấp cho mình chính là vai trò. Còn cái "tuổi" (độ chín muồi, năng lực thực chất tích lũy được bên trong) chính là tư cách.
Trong xã hội, có rất nhiều người mang "vai trò" (có chức danh, bằng cấp) nhưng lại thiếu "tư cách" (thiếu hiểu biết cốt lõi). Ngược lại, có người đủ "tư cách" nhưng lại chưa có "vai trò" chính thức nên không được xã hội cho phép làm. Do đó, để tạo lập giá trị thực sự, con người phải luôn có ý thức trang bị, bồi dưỡng và hợp thức hóa cả tư cách lẫn vai trò của chính mình.
Danh Chính Ngôn Thuận
Tư cách thì tự mình bồi dưỡng được, chứ còn vai trò là cái xã hội cấp, chẳng lẽ cứ phải ngồi chờ người ta giao cho?
Thực ra chúng ta cũng không phải chờ lâu đâu. Bởi có một quy luật rất hay trong xã hội: Hễ một người có tư cách thật, làm những việc chính nghĩa, tạo lập giá trị thật, thì sớm muộn xã hội cũng sẽ tự tìm cách trao vai trò cho người đó.
- Một bộ óc kiến tạo nên những công trình xuất chúng sẽ được các hội đồng khoa học cao nhất trao tặng học vị danh dự, dẫu người đó chưa từng một ngày ngồi trên ghế giảng đường chính quy.
- Một cá nhân âm thầm dấn thân, tạo lập những giá trị lớn lao cho cộng đồng, tự khắc sẽ được nhân dân và nhà nước gắn lên ngực những tấm huân chương, phong tặng những danh hiệu cao quý nhất.
- Một người làm việc với chữ tín vẹn toàn, năng lực giải quyết vấn đề xuất sắc, thì dù chưa có quyết định bổ nhiệm, anh em nhân sự vẫn tự nguyện nghe theo, đối tác tự mang cơ hội đến tận cửa để trao gửi niềm tin.
- Hay những bậc kỳ tài trong sử sách luôn được các bậc minh quân phá lệ phong tước hiệp sĩ, trao kim bài, hay ban thượng phương bảo kiếm với quyền chém trước tâu sau.
Tất cả những điều đó, dù là tấm huân chương, tấm bằng danh dự, hay quyền uy trên thương trường, đều không tự nhiên mà có. Bản chất là xã hội đã công nhận cái tư cách thật của một người, rồi thuận duyên trao cho người đó cái vai trò tương xứng. Tư cách đủ rồi thì vai trò tự khắc tìm đến.
Đấy chính là "danh chính thì ngôn mới thuận" mà Khổng Tử đã nói. Khi cái tư cách bên trong đã đủ, xã hội tự khắc cấp cho cái vai trò bên ngoài. Mà khi đã có vai trò chính danh rồi, thì lời nói ra người ta mới thuận, việc làm ra mới hanh thông.
Vậy rốt cuộc, làm sao để có được cái chính danh ấy?
Buông Danh
Lão Tử mở đầu Đạo Đức Kinh bằng một câu mà Ngọc Anh ngẫm mãi: "Danh khả danh, phi thường danh" - Cái tên (hoặc khái niệm) mà ta có thể gọi ra được, định nghĩa được, thì đó không phải là cái tên (hoặc bản chất) vĩnh hằng, bất biến. Khi chúng ta đặt tên cho một sự vật, chúng ta đã vô tình "đóng khung" và giới hạn nó.
Trong khi, mọi thứ trong vũ trụ này luôn vận động, thay đổi từng giây từng phút. Nhưng ngôn ngữ và khái niệm lại mang tính cố định. Khi ta vừa gọi tên được một trạng thái, thì trạng thái đó đã chuyển sang một dạng khác rồi. Do đó, cái tên được gọi ra không còn phản ánh đúng cái thực tại đang là nữa.
Ngọc Anh nghĩ rằng, có lẽ câu trả lời phù hợp nhất là phải buông danh thì mới có được đại danh.
Càng chăm chăm đi tìm danh, danh càng rời xa. Càng nôn nóng muốn người khác đồng thuận, người ta lại càng dè chừng, tự hỏi người này là ai mà muốn mình thuận theo, đằng sau có mưu đồ gì không.
Trái lại, những người dường như chẳng bận tâm gì tới danh, chỉ lo làm cho thật tốt, lại là những người danh tự tìm đến. Thú vị vậy đó cả nhà.
Bởi xét cho cùng, cái danh chỉ là một cái nhãn dán bên ngoài. Giám đốc, chuyên gia, đại sứ, giàu, nghèo, thành, bại... tất cả đều là những cái nhãn con người tự quy ước với nhau để dễ gọi tên, dễ sắp xếp.
Giống như cái áo mình khoác lên người vậy. Áo không phải là người mặc. Mà sai lầm lớn nhất của một đời người là tưởng cái áo chính là mình. Bám quá chặt vào một chức danh, người ta tự nhốt mình trong chiếc áo đó, đánh mất sự tự nhiên vốn có. Hóa ra cái danh mình gồng lên nắm giữ lại chính là cái danh trói mình chặt nhất.
Mà buông danh ở đây không phải là vứt bỏ danh, chối từ danh. Buông danh nghĩa là không để tâm trí dính vào việc giành danh, mà dồn hết sức vào hai cái gốc: Bồi dưỡng tư cách & tạo lập giá trị thật.
Cứ lấy tư cách làm gốc, lấy giá trị thật làm gốc. Bởi khi một tổ chức hay một cộng đồng cần tìm người gánh vác một trọng trách, họ luôn đi tìm những con người đã có sẵn tư cách. Cả nhà để ý mà xem, rất nhiều người ra sức chạy cho được cái vai trò, lo có cho đủ bằng cấp, chứng nhận, chức danh, nhưng bên trong lại rỗng, thiếu mất cái hiểu biết thực sự. Ngồi vào vị trí rồi mà không gánh nổi, sớm muộn cũng đổ. Cái áo quá rộng so với người mặc là vậy.
Đại Danh
Nhìn cho tới cùng, người buông được nhiều nhất lại là người có danh lớn nhất. Cả nhà thử nhìn lại sử sách mà xem. Những bậc thầy của một đời vua, những con người mà cả một triều đình phải nghiêng mình, đều là những người đã buông sạch. Buông danh, buông tài, buông cả tham tưởng cho riêng mình, thậm chí buông luôn cái sống chết. Chính vì chẳng giữ gì cho riêng mình, nên họ mới đủ tư cách đứng ra dìu dắt, khai tâm cho những bậc quân vương.
Chuyện đời thường cũng cùng một lẽ. Khi đi gặp một quý nhân, một người có vị thế lớn, nếu trong lòng còn mang một mong cầu, còn muốn lấy cho được chút lợi từ người ta, thì lạ lắm, cách nói năng tự nhiên khúm núm hẳn đi, tự mình hạ thấp mình xuống. Mà người có vị thế thật thì tinh lắm. Chỉ một câu nói, một cử chỉ là họ đọc ra ngay cái mong cầu giấu bên trong.
Nhưng cũng con người đó, khi đã buông hết danh lợi, trong lòng chỉ còn một điều duy nhất là làm sao tạo lập giá trị cho người, cho đời, thì cách nói chuyện khác hẳn. Thư thái, cân bằng, không một chút khúm núm, bởi có gì mong cầu ở người đâu.
Vậy mới nói, vào một cuộc giao tiếp mà đã mang sẵn mong cầu nơi người ta, là đã thua ngay từ đầu rồi. Còn khi buông được hết, lạ thay, mọi thứ lại tự tụ về. Vì buông tất cả nên có tất cả. Mà có tất cả thì cũng chẳng có gì.



Bình Luận (0)