Không thể dự đoán được tương lai, nhưng có thể phát minh ra những tương lai.
The future cannot be predicted, but futures can be invented.
Tư Duy
Định nghĩa
Tư duy là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người trong quá trình nhận thức, phản ánh thế giới (tự nhiên, xã hội, tinh thần) và quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới. Căn cứ vào những kết quả của quá trình nhận thức cảm tính, cảm giác, tri giác và biểu tượng), tư duy thực hiện công việc của nó bằng các quá trình trừu tượng hóa, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa (mô hình hóa, công thức hóa, quy tắc hóa, quy trình hóa, v.v.), vừa kế tiếp nhau, vừa phối hợp với nhau, hình thành nên những khái niệm, phán đoán, suy lý và những kết luận logic.
Nguyễn Đình Thuận: Thuật ngữ lý luận chính trị, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 413.
Giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí.
Phát triển tư duy. Tư duy trừu tượng. Khả năng tư duy.
Hoàng Phê: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2026, tr. 1357.
Lời Hay Ý Đẹp
4Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất; tập trung vào những ngành, lĩnh vực, chương trình, dự án và công trình có ý nghĩa quyết định đối với năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Nhân tài phải được nhận diện và đánh giá chủ yếu bằng phẩm chất, năng lực thực tế, tư duy sáng tạo, sản phẩm cụ thể, thành tích, uy tín nghề nghiệp và giá trị cống hiến; không đồng nhất nhân tài với người có bằng cấp cao, học hàm, học vị, chức vụ quản lý hoặc thâm niên công tác. Tiêu chí phải thống nhất về nguyên tắc nhưng linh hoạt theo đặc thù từng ngành, lĩnh vực và yêu cầu của từng nhiệm vụ. Gắn nhân tài với yêu cầu giải quyết những bài toán cụ thể, công khai yêu cầu và tìm đúng người có khả năng giải quyết.
Người nào có một “lý do để sống” thì có thể chịu đựng được gần như mọi “cách để sống”.
Nguyên văn tiếng Đức: Hat man sein warum? des Lebens, so verträgt man sich fast mit jedem wie?
Bản tiếng Anh thường dẫn: He who has a why to live can bear almost any how.
Thế giới quan triết học của người Việt Nam mang tính phức hợp, được hình thành trên nền tảng văn hóa Đông Sơn, sau đó kết hợp với tư tưởng của Tam giáo, tư tưởng tư sản và chủ nghĩa Mác - Lênin. Khuynh hướng tư duy của người Việt thiên về các vấn đề xã hội, nhân sinh, tập trung lý giải các vấn đề chính trị - xã hội và luân lý, chú trọng đến giáo dục con người và đạo lý làm người hơn là quan tâm đến nhận thức luận hay bản thể luận về thế giới khách quan.
Người Việt thường tiếp cận các vấn đề từ những định đề có sẵn và vận dụng chúng vào thực tiễn, dẫn đến tư duy triết học có phần rời rạc, tản mạn, thiếu tính hệ thống và khái quát. Thế giới quan truyền thống không tránh khỏi những biểu hiện giáo điều, rập khuôn, chủ quan, thiên về kinh nghiệm và cảm tính.