Trang Chủ Về WPE Quỹ Đồng Hành Lan Tỏa Tri Thức Nhân Sinh Góc Nhìn Hoạt Động Phụng Sự Xã Hội Bản Tin Đại Sứ Đại Sứ WPE Thư Viện Từ Điển Nhân Sinh

Từ Điển Nhân Sinh

Từ điển sống của Triết Lý Nhân Sinh. Mỗi khái niệm có định nghĩa kèm nguồn; bấm vào để đọc thêm những trích dẫn soi sáng nó.

Tất cả A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y

Sự xuất hiện của khái niệm “Chuẩn mực con người Việt Nam” trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là lời giải đáp cho yêu cầu bứt phá phát triển đất nước, khi Đảng nhận diện rõ rằng nếu không có những con người có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực thì mọi thành tựu kinh tế đều thiếu đi nền tảng bền vững.

Chuẩn mực con người Việt Nam là sự kết tinh của 8 giá trị cốt lõi đã được đúc kết, thử thách qua thực tiễn đổi mới bao gồm: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cươngsáng tạo. Điểm bứt phá mang tính thời đại trong khái niệm này chính là việc bổ sung và nhấn mạnh các thành tố mới như “năng lực sáng tạo”, “kỹ năng số” và “thượng tôn pháp luật” để định hình nên chân dung nhân cách con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là một chỉnh thể phát triển toàn diện về cả đức, trí, thể, mỹ, nơi tinh hoa văn hóa dân tộc được gắn kết hữu cơ với tri thức hiện đại của nhân loại trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Về mặt lý luận, khái niệm này bắt nguồn từ sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò chủ thể của con người; khẳng định con người vừa là trung tâm, là nguồn lực chủ yếu, vừa là mục tiêu tối thượng của sự phát triển. Việc xác lập chuẩn mực này cũng chính là cụ thể hóa mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế với xây dựng con người, coi đầu tư cho con người là khoản đầu tư mang lại tỷ suất sinh lời cao nhất cho tương lai dân tộc.

Nội hàm khái niệm “Chuẩn mực con người Việt Nam” có thể nhận diện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, chuẩn mực con người Việt Nam mang đặc trưng của một nguồn lực nội sinh và “hệ điều tiết” cho sự phát triển xã hội bền vững. Khi những giá trị này được thẩm thấu và thực hành rộng khắp, chúng tạo ra “sức đề kháng” văn hóa mạnh mẽ, giúp mỗi cá nhân đủ bản lĩnh để nhận diện, sàng lọc và bài trừ các hình thức văn hóa lai căng, hủ lậu, đồng thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái từ sớm, từ xa.

Thứ hai, khái niệm này sở hữu đặc trưng của một động lực tinh thần khơi dậy khát vọng cống hiến, biến lòng tự tôn dân tộc thành sức mạnh vật chất để quốc gia thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.

Thứ ba, tính giao thoa và tích hợp chiến lược, khi chuẩn mực con người không đứng riêng lẻ mà nằm trong chỉnh thể của bốn hệ giá trị nền tảng: giá trị quốc gia, giá trị văn hóa, giá trị gia đình và chuẩn mực con người. Nó đóng vai trò là hạt nhân chi phối chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao - một trong ba đột phá chiến lược để thực hiện thành công các mục tiêu về công nghệ chiến lược và kinh tế số.

Thứ tư, khái niệm mang đặc trưng của phương thức quản trị quốc gia hiện đại, lấy sự hoàn thiện của con người làm thước đo và bảo chứng cho sự hưng thịnh của quốc gia. Đặc trưng này được cụ thể hóa qua Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035 và phong trào “Bình dân học vụ số”, nhằm phổ cập kỹ năng trí tuệ và đạo đức mới đến từng ngõ ngách của đời sống xã hội.

“Chuẩn mực con người Việt Nam” nằm trong chỉnh thể của 4 hệ giá trị nền tảng: hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người. Nó không đứng riêng lẻ mà là thành tố hữu cơ kết nối giữa “Phát triển văn hóa” và “Xây dựng Đảng về đạo đức”, là hạt nhân chi phối chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao - một trong ba đột phá chiến lược. Có thể nói, “Chuẩn mực con người Việt Nam” chính là “ngọn cờ” định hướng tư tưởng và hành động để toàn Đảng, toàn dân ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội với một tâm thế tự tin, tự chủ và tự cường.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương - Hội đồng Lý luận Trung ương: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 37-39.

Lời Hay Ý Đẹp (1)

Chuẩn mực đạo đức là những giá trị đạo đức xác định ranh giới giữa việc nên làm và không nên làm của cá nhân, được xã hội thừa nhận và trở thành những khuôn mẫu xem xét, đánh giá và điều chỉnh hành vi của con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Chuẩn mực đạo đức bao gồm những tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, chuẩn mực ứng xử của cá nhân trong mối quan hệ với người khác, với tập thể và xã hội trong những giai đoạn nhất định của xã hội, hoặc trong các thời kỳ, hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội.

Nguyễn Đình Thuận: Thuật ngữ lý luận chính trị, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 109.

Lời Hay Ý Đẹp (1)

Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp xã hội, trong đó cốt lõi là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước. Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chính trị thuộc cấu trúc thượng tầng; chính trị xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp dựa trên cơ sở hạ tầng kinh tế; chính trị là sự biểu hiện tập trung nhất của kinh tế, vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế được thể hiện qua mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng. Nội dung cốt lõi của chính trị là việc tổ chức quyền lực nhà nước, là sự tham gia vào công việc nhà nước, là định hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nội dung, nhiệm vụ của nhà nước.

Nguyễn Đình Thuận: Thuật ngữ lý luận chính trị, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 86.

Lời Hay Ý Đẹp (3)

Chỉ số hạnh phúc được hiểu là tổng hòa các giá trị phản ánh mức độ hài lòng, niềm tin và sự thụ hưởng thực chất của Nhân dân đối với thành quả của công cuộc đổi mới. Khái niệm này không dừng lại ở các định nghĩa trừu tượng, mà được cụ thể hóa thông qua thứ hạng quốc tế, với thành tựu ghi nhận Việt Nam xếp thứ 46/143 quốc gia trong Báo cáo hạnh phúc thế giới năm 2025, tăng tới 33 bậc so với đầu nhiệm kỳ. “Hạnh phúc” bao quát từ sự an tâm về hệ thống an sinh xã hội đa tầng, quyền được chăm sóc sức khỏe toàn diện, tiếp cận giáo dục chất lượng cho đến sống trong một môi trường sinh thái trong lành và sự tôn trọng các giá trị văn hóa, gia đình... Đảng xác lập mục tiêu định lượng hết sức quyết liệt cho giai đoạn 2026 - 2030 là phấn đấu đưa Việt Nam lọt vào nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới, coi đó là bằng chứng sống động nhất cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Nội hàm thuật ngữ “Chỉ số hạnh phúc” có thể nhận diện qua bốn đặc trưng sau:

Thứ nhất, khái niệm này mang đặc trưng nhân văn và chính trị cốt lõi, bắt nguồn từ việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập - tự do - hạnh phúc và quan điểm xuyên suốt “Dân là gốc”; khẳng định Nhân dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu tối thượng của sự phát triển.

Thứ hai, là đặc trưng của tính biện chứng và tích hợp, khi hạnh phúc được xác định là sự hài hòa giữa phát triển vật chất với tinh thần, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Đặc trưng này biến “Chỉ số hạnh phúc” thành một mắt xích hữu cơ kết nối với “Chỉ số phát triển con người” (HDI) và “Chỉ số chất lượng không khí” (AQI) để tạo thành bộ khung quản trị quốc gia hiện đại.

Thứ ba, khái niệm “Chỉ số hạnh phúc” đóng vai trò là “hệ điều tiết” cho sự phát triển xã hội bền vững và là thước đo bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; việc nâng cao chỉ số này trực tiếp củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ tư, “Chỉ số hạnh phúc” mang đặc trưng của nguồn sức mạnh nội sinh và lá chắn chính trị; khi lòng dân đồng thuận và cảm thấy hạnh phúc, khát vọng vươn mình của dân tộc mới được khơi dậy mạnh liệt, tạo thành “thế trận lòng dân” vững chắc để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái và ngăn chặn tình trạng suy thoái từ sớm, từ xa.

“Chỉ số hạnh phúc” nằm ở đỉnh cao của hệ giá trị mục tiêu, là linh hồn kết nối các khái niệm “Độc lập - Tự chủ - Tự cường - Phát triển”. Nó không đứng riêng rẽ mà gắn kết hữu cơ với “Chỉ số phát triển con người” (HDI), “Chỉ số chất lượng không khí” (AQI) và các mục tiêu về quốc phòng, an ninh... Thuật ngữ này khẳng định tư duy quản trị quốc gia hiện đại của Đảng: lấy sự trường tồn của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm kim chỉ nam dẫn dắt toàn bộ tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới... Có thể nói, “Chỉ số hạnh phúc” chính là biểu tượng cho sự dung hợp nhuần nhuyễn giữa đạo đức, văn minh và sự giàu mạnh của nước Việt Nam trong tầm nhìn đến năm 2045.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương - Hội đồng Lý luận Trung ương: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 20-21.

Lời Hay Ý Đẹp (1)
Về con người, con người trong xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo những nguyên tắc, phương thức mới; đó là ‘con người xã hội chủ nghĩa’, con người có đầy đủ tố chất về năng lực, phẩm chất, đạo đức, lối sống cao đẹp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Vũ Trọng Lâm (Chủ biên): Nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua các tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 74.

Khái niệm liên quan: Phẩm Chất Năng Lực
Lời Hay Ý Đẹp (3)

Xây dựng, hoàn thiện cơ chế “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là chủ trương chiến lược của Đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực. Chiến lược này không chỉ tập trung vào việc phát hiện, trừng phạt mà còn chú trọng vào phòng ngừa tận gốc rễ.

- “Không dám” tham nhũng: Đây là thiết chế răn đe, là bước đầu tiên và trực diện nhất, đánh vào tâm lý sợ bị phát hiện, bị “mất” nhiều hơn được. Muốn vậy cần xây dựng hệ thống pháp luật nghiêm minh, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Có chính sách đãi ngộ tốt đi đôi với cơ chế quản lý chặt chẽ. Đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xét xử. Khi cán bộ tham nhũng, tiêu cực bị xử phạt nghiêm khắc, mất quyền lợi, mất tự do, mất sự nghiệp, sẽ tạo ra sức răn đe lớn, khiến những người có ý định tham nhũng “không dám” vì cái giá phải trả quá đắt.

- “Không thể” tham nhũng: Đây là thiết chế ngăn ngừa. Mục tiêu là xây dựng một “lồng cơ chế” chặt chẽ để không ai có kẽ hở để lợi dụng. Muốn vậy, cần hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội và pháp luật; thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số để giảm bớt sự tiếp xúc trực tiếp giữa người dân và cán bộ; xây dựng quy trình nghiệp vụ chặt chẽ để không ai có quyền lực tuyệt đối mà thiếu sự giám sát.

- “Không muốn” tham nhũng: Đây là thiết chế giáo dục, nâng cao lòng tự trọng của mỗi cá nhân để họ cảm thấy xấu hổ và tự giác tránh tham nhũng, tiêu cực. Muốn vậy, cần thường xuyên giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh tuyên truyền về tác hại của tham nhũng và biểu dương các gương điển hình về đạo đức công vụ, xây dựng văn hóa liêm chính, trọng liêm sỉ. Khi cán bộ có lòng tự trọng và ý thức trách nhiệm cao, họ sẽ coi tham nhũng là một hành vi đáng xấu hổ và tự giác tránh xa.

- “Không cần” tham nhũng: Đây là thiết chế bảo đảm, là giải pháp mang tính thực tế và nhân văn, giải quyết gốc rễ về mặt lợi ích kinh tế. Muốn vậy, cần đảm bảo đời sống cho đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện tốt cải cách tiền lương để thu nhập của cán bộ đủ để nuôi sống bản thân và gia đình ở mức khá. Có chế độ đãi ngộ, phúc lợi tốt và lộ trình thăng tiến công bằng. Khi mức lương đủ đảm bảo cuộc sống ổn định, cán bộ sẽ tập trung cống hiến thay vì phải tìm cách “kiếm thêm” bất chính.

Việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế “Bốn không” này tạo nên một hệ thống “phòng thủ” nhiều lớp, giúp bảo vệ cán bộ, công chức bộ máy nhà nước trong sạch và hiệu quả hơn.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương - Hội đồng Lý luận Trung ương: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 58-59.

Lời Hay Ý Đẹp →
Lên đầu trang